CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 72 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8) VÀ QUỐC KHÁNH 2/9 (1945 - 2017)














Liên kết website



Số người truy cập: 7772415
Đang online: 780
[ Ngày tạo: 17/06/2015 ]

           Ban biên tập cổng thông tin điện tử thành phố giới thiệu nguyên văn Luận cứ nêu trên của TS. Lê Minh Nghĩa- Hội đồng Lý Luận Trung ương như sau:

 Bóc lột là một hiện tượng kinh tế - xã hội, là hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, thuộc phạm trù lịch sử, xuất hiện từ lâu trong quá trình sản xuất và đời sống của con người. Tuy nhiên, chỉ đến khi chủ nghĩa Mác xuất hiện cùng với sự phát minh ra tính chất hai mặt của lao động thì sự ra đời, bản chất và các hình thức bóc lột mà điển hình là bóc lột giá trị thặng dư mới được cắt nghĩa, phân tích một cách khoa học, thấu đáo đến tận ngọn nguồn.

            Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư là một trong những luận điểm mà thế lực thù địch chủ nghĩa xã hội tập trung xuyên tạc, bóp méo nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”.

            Chúng tôi bước đầu nêu lên một số luận cứ cơ bản, góp phần phê phán quan điểm mơ hồ, thiên kiến trên đây,

            1. Cơ sơ lý luận

            Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác có lỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của học thuyết giá trị thặng dư. Như mọi người đều biết, học thuyết giá trị thặng dư được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị- lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Lao động sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động có ích biểu hiện được hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Lao động cụ thể thuộc phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động của người sản xuất hàng hóa nói chung. Chỉ có lao động sản xuất hàng hóa mới có tính chất lao động trừu tượng. Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị của hàng hóa.

            Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận; nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.

            Đầu những năm 40 của thế thế kỷ XIX, cùng với việc sáng tạo ra quan điểm duy vật lịch sử, vận dụng vào nghiên cứu kinh tế chính trị, phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động, C.Mác đã khắc phục được những lầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị lao động đạt tới hoàn bị. Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, từ đây C.Mác đã tách giá trị thặng dư ra khỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư của mình. Các nhà kinh tế trước C.Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. Chỉ đến C.Mác mới cho thấy rõ rằng, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản (T-H-T) và đặc biệt là tìm ra được trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động – mà việc sử dụng nó có thể tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản… Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C.Mác giải thích đươc nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của giá trị thặng dư, thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến…xây dựng nên học thuyết khoa học về giá trị thặng dư, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế… Với học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, bóc trần bản chất của cái gọi là hình thức “thu nhập” của lợi nhuận, lợi tức và địa tô.

            Tâm điểm và là điều cốt lõi đọng lại nhất của học thuyết khoa học về giá trị thặng dư là: (1) Chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra giá trị thặng dư; (2) Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài sức lao động do công nhân làm ra bị nhà tư bản chiếm không; (3) Giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có sản xuất giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản. Quy luật giá trị thặng dư không chỉ vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn để đạt mục đích, như: tăng cường bóc lột công nhân làm thuế bằng cách, tăng cường độ lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng sản xuất. Giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn; (4) Và cuối cùng, chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình, một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất, chừng đó, cho đến ngày nay, những điều kiện nêu trên vẫn hiện tồn thì học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn còn nguyên giá trị, nó chưa có lý do để “trở nên lỗi thời”.

            2. Cơ sở lịch sử

            Kể từ những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác đã chiến đấu chống những lý luận đối lập với mình, nhất là trong lý luận kinh tế, điển hình là phái Pruđông, Muynbécgơ. Đăc biệt là trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã phê phán một cách hệ thống những luận điểm phản khoa học của ông ta trên tất cả các mặt  triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Khi bước vào thời kỳ giao thoa giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác lại buộc phải tiến hành cuộc đấu tranh toàn diện và quyết liệt với một trào lưu chống chủ nghĩa Mác trong nội bộ chủ nghĩa Mác. Đó là trào lưu của chủ nghĩa xét lại mang tên E.Bécstanh. Trên lĩnh vực kinh tế khi đó, Bécstanh đã từng “xét lại” toàn diện lý luận kinh tế học mácxít. Ông ta cho rằng, học thuyết giá trị của Mác là sự trừu tượng hóa của các hình thái cụ thể của giá trị sử dụng, của lao động, của sự tách rời giữa giá cả và giá trị, do đó giá trị không còn có thể đo lường được mà trở thành giả thuyết của tư duy trừu tượng. Bécstanh cho rằng, ngoài việc đi sau lý giải một cách trừu tượng khái niệm giá trị ra, ở Mác “chẳng còn gì khác biệt có tính chất nguyên tắc so với lý luận giá trị lao động trước đây trong lịch sử tư tưởng kinh tế”. Trên cơ sở phủ định lý luận giá trị của Mác, Bécstanh tiến tới gạt bỏ tính khoa học trong học thuyết giá trị thặng dư của Mác, không thừa nhận đó là hòn đá tảng của lý luận kinh tế chính trị học mácxít.

            Để bác bỏ luận điểm “xét lại” cuả Bécstanh, Lênin cho rằng: “chỉ trong một thời gian rất ngắn và chỉ có những kẻ thiển cận nhất, chịu ảnh hưởng của một vài năm công nghiệp phát đạt và thịnh vượng mới có thể nghĩ đến việc sửa đổi lại những nguyên lý của học thuyết Mác. Thực tế đã chỉ ra rất sớm cho bọn xét lại thấy rằng thời kỳ khủng hoảng chưa hết: khủng hoảng đã kế tiếp sự phồn vinh. Hình thức, sự kế tục, bộ mặt của một số cuộc khủng hoảng đã thay đổi, nhưng khủng hoảng vẫn là bộ phận cấu thành không thể tránh khỏi của chế độ tư bản chủ nghĩa”. Bécstanh ngang nhiên gọi lý luận giá trị và học thuyết giá trị thặng dư của Mác là “giả thuyết tư duy thuần túy”. Điều đó cho thấy Bécstanh không hiểu “phương pháp trừu tượng” trong lý luận giá trị của Mác, đó không phải là sản phẩm của tư duy tưởng tượng mà là tồn tại xã hội hiện thực. Bécstanh nhìn nhận học thuyết kinh tế của Mác bằng con mắt của trường phái kinh tế học tâm lý tư sản. Điều đó cho thấy Bécstanh đã hoàn toàn ngã theo quan điểm duy tâm về lịch sử. Phủ định lý luận giá trị và học thuyết giá trị thặng dư của Mác, đó là kết quả đương nhiên khi Bécstanh phát triển lý luận của mình trên cơ sở triết học duy tâm.

            Thực chất của lý luận giá trị của chủ nghĩa Mác chính là cung cấp cho ta chìa khóa để lý giải phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tách khỏi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tức là tách khỏi tiền đề của sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, thì tư duy lý luận về giá trị sẽ mất cơ sở thực tế, không thể xây dựng được học thuyết khoa học về giá trị và giá trị thặng dư. Mác xây dựng học thuyết giá trị của mình trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử, và tiền đề của học thuyết đó chính là quy luật và xu thế phát triển cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trên ý nghĩa ấy, chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận của lý luận khoa học về giá trị và học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa Mác. Đồng thời, chỉ có lý luận khoa học về giá trị mới thật sự là chìa khóa để mở  cánh cửa của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vứt bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, Bécstanh không thể nào làm rõ được cơ sở phương pháp luận của lý luận về giá trị. Thực tế lịch sử vận động của chủ nghĩa tư bản càng ngày càng chứng minh tính phản khoa học của trường phái Bécstanh.

            3. Cơ sở thực tiễn

            3.1. Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật.

            Từ nửa sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin v.v, đặc biệt là thúc đẩy phát sự phát triển công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học.

            Chủ nghĩa tư bản lợi dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhanh chóng thích nghi với sự phát triển của thế giới, kịp thời thay đổi chiến lược và sách lược phát triển, nên nền kinh tế của họ có tốc độ phát triển nhanh. Một số nước tư bản với điểm xuất phát cũng gần như các nước xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới thứ 2, nhưng đã nắm bắt kịp thời hướng đi mới của công nghệ, nên đã vươn lên thành những cường quốc công nghiệp. Một số nước Đông Á và Đông Nam Á với điểm xuất phát còn thấp hơn so với các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng nhờ nắm được xu thế phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là những ngành công nghệ mũi nhọn của thời đại, đã vươn lên thành các nước công nghiệp mới. Trong bối cảnh ấy, một số người cho rằng: “chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”. Họ lập luận rằng: quy luật giá trị thặng dư có thể tác động trong thời kỳ kinh tế công nghiệp, nhưng quy luật ấy không có tác dụng trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, thời đại kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức. Trước đây, người lao động bán sức lao động, nhưng ngày nay, họ không thể bán tri thức, trí tuệ được… Ngày nay, làm ra giá trị không phải chủ yếu do lao động trực tiếp; bóc lột, không phải do chiếm hữu tư liệu sản xuất, mà hình thức hiện nay, hình thức quan trọng hơn hết của tài sản lại là những thứ không thể trực cảm được. Nó là siêu tượng trưng, siêu ký hiệu, nó là tri thức. Cùng một tri thức có thể được nhiều người sử dụng cùng một lúc để tạo ra của cải và còn để sản xuất ra nhiều tri thức hơn nữa. Và không giống nhà máy hay cánh đồng, tri thức xét về mọi phương diện là không bao giờ bị khai thác đến cạn kiệt…

            Các nhà kinh tế học tư sản lập luận rằng: trong học thuyết giá trị thặng dư, Mác quá đề cao lao động cơ bắp và coi nhẹ hoặc không thấy hết vai trò của lao động trí lực, lao động quản lý trong quá trình tạo ra giá trị. Thực ra, chính C.Mác, khi nói về lao động trừu tượng, đã chứng minh đó là sự hao phí về sức óc, thần kinh, cơ bắp. Mác còn chỉ rõ lao động giản đơn khác biệt lao động phức tạp. Lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn, là một hàng hóa có giá trị cao hơn hẳn, rất nhiều lần so với sản phẩm của lao động giản đơn tạo ra. Mác đã từng dự báo khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực của lịch sử, là một lực lượng cách mạng.

            Lần đầu tiên, với những phát hiện của C.Mác, quan hệ giữa tư bản và lao động đã được giải thích triệt để. C.Mác đã chỉ ra cơ chế, động lực tồn tại và phát triển của xã hội tư bản là bóc lột giá trị thặng dư. Quy luật giá trị thặng dư là quy luật chung của xã hội tư bản chi phối toàn bộ xã hội tư bản, tất cả các giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, từ thấp đến cao. Cũng như đối với xã hội có giai cấp trước đây, trong xã hội tư bản, đấu tranh giai cấp không biến mất, nó chỉ thay đổi hình thức.

            Chủ nghĩa tư bản ngày nay, tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm và luận điểm phản ảnh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế - xã hội mới nhất bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra giá trị thặng dư trong thời đại kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng vậy.

            Tuy nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật giá trị thặng dư ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột giá trị thặng dư tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới: Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn. Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập trình, nhà khoa học phát minh, nhà quản  thuật và công nghệ hiện đại, nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp, dẫn đến, lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ, nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều. Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá. Đó là những công cụ chủ yếu để mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài nhằm bóc lột, bòn rút trên phạm vi toàn thế giới và nhất là từ các nước kém phát triển, mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các nước tư bản trong mấy chục năm qua, tăng lên gấp nhiều lần. Sự cách biệt giữa những nước giàu và các nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay. Các nước tư bản phát triển đã bòn rút chất xám, hủy hoại môi sinh, cũng như cội rễ đời sống văn hóa của các nước lạc hậu và kém phát triển.

            Những người bác bỏ học thuyết giá trị thặng dư hoàn toàn không thể giải thích được tại sao lao động của ông Bin Ghết chủ hãng Maicrôxốp có thể tạo ra tài sản cá nhân lên đến vài chục tỉ USD, không thể giải thích được vì sao phân hóa giàu nghèo trong thế giới hiện đang toàn cầu hóa mạnh mẽ lại ngày càng gia tăng, hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội tư bản ngày càng sâu rộng: 20% số dân giàu nhất hành tinh chiếm tới 82,7% thu nhập của thế giới, 20% số dân nghèo nhất chỉ được hưởng 1,4%? Sự khác biệt giữa hai bộ phận dân cư này đã tăng và nó còn tiếp tục tăng lên.

            3.2. Chủ nghĩa tư bản giữ nguyên bản chất bóc lột giá trị thặng dư

            Với sự tan vỡ của Liên Xô và các nước Đông Âu, chủ nghĩa tư bản tìm cách tự huyễn hoặc mình ở bước ngoặt này của thế kỷ như một hệ thống chiến thắng trong cuộc đọ sức do nó tiến hành chống hệ thống XHCN, như một hệ thống ưu việt, một hệ thống duy nhất có thể giải quyết các vấn đề to lớn của nhân loại.

            Lẽ đương nhiên chủ nghĩa tư bản ở điểm ngoặt này của thế kỷ có những đặc điểm khác với những đặc điểm mà Mác cách đây 165 năm và Lênin cách đây cả 100 năm đã chỉ ra. Đó là sự phát triển bản thân chủ nghĩa tư bản và của những thay đổi của cuộc đấu tranh giải phóng của giai cấp công nhân và các dân tộc diễn ra trên thế giới. Đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền ở điểm ngoặt của thế kỷ với những công ty xuyên quốc gia khổng lồ đòi hỏi có các cơ chế và thể chế có khả năng điều tiết sản phẩm và thị trường, quốc tế hóa các quá trình kinh tế và phân công lao động quốc tế.

            Một trong những đặc điểm đặc trưng nhất của sự tiến hóa của chủ nghĩa tư bản ở thời điểm bước ngoặt, không chỉ đơn thuần là chủ nghĩa tư bản độc quyền trở thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ở các nước phát triển nhất mà còn là sự tiến tới chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, với những công ty đa quốc gia hoặc xuyên quốc gia khổng lồ chiếm vị trí thống lĩnh; với các quá trình tiến tới quốc tế hóa kinh tế và hợp nhất kinh tế - một xu hướng tiến tới các giải pháp chính trị đa quốc gia ít nhiều mang tính chất hình thức và được thể chế hóa; một xu hướng tiến tới tạo ra các quyền lực chính trị siêu quốc gia phục vụ cho các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia.

            Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã điều chỉnh và đạt được sự phát triển lực lượng sản xuất đáng kể ở các nước hùng mạnh nhất nhờ phát triển và tiếp thu những kiến thức khoa học, các công nghệ mới. Năng suất lao động tăng lên cho phép tư bản ngày càng có điều kiện gia tăng trình độ bóc lột lao động làm thuê. Trong quan hệ sản xuất cũng có những điều chỉnh nhất định. Sự xuất hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời gian lao động trong tuần… như chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Tuy nhiên, dù có điều chỉnh tới đâu, chủ nghĩa tư bản cũng không có khả năng khắc phục các mâu thuẫn cơ bản, mà nó còn có xu hướng làm tăng các mâu thuẫn đó, bởi các mâu thuẫn đó thể hiện chính bản chất của chủ nghĩa tư bản. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội ngày càng tăng của sản xuất và tính chất tư hữu ngày càng tăng của chiếm hữu sản xuất; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động; mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức bóc lột và các nước tư bản phát triển nhất; mâu thuẫn trong nội bộ các nước đế quốc với nhau.

            Mọi sự “điều chỉnh” để thích ứng của chủ nghĩa tư bản tiếp tục đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu, ngày càng giàu hơn. Tích tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng cường  bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của Mác nói rằng đi kèm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là hiện tượng tăng tư sản bất biến (dùng để mua tư liệu sản xuất) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế “đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản. Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới. Bản sao của nó là nạn đói nghèo, bần cùng, bệnh tật, đày ải, tham nhũng phổ biến, với những vết nhơ của tình trạng áp bức xã hội như nạn đĩ điếm, trẻ bụi đời, ma túy và tiêm trích ma túy, tội ác có tổ chức. Bất bình đẳng trên phạm vi quốc tế: đó là các vấn đề chậm phát triển, bệnh tật, nạn chảy máu các nguồn tài nguyên, phá rừng, sa mạc hóa và ô nhiễm đã đạt đến mức thảm họa thật sự ở một số khu vực trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà Jacques Dérrida nêu lên 10 ung nhọt của trật tự thế giới mới: (1) khủng hoảng và nạn thất nghiệp. (2) Việc loại trừ hàng loạt công nhân không nhà ở khỏi mọi sự tham gia vào đời sống dân chủ của các quốc gia, trục xuất, lưu đầy, những người lưu vong. (3) Nguy cơ chiến tranh và xung đột sắc tộc vẫn tiềm ẩn khó lường giữa các nước, các khu vực. (4) Sự bất lực trong việc chế ngự những mâu thuẫn về chuẩn mực và thực tế của thị trường tự do. (5) Sự gia tăng nợ nần. (6) Công nghiệp và buôn bán vũ khí. (7) Sự phát tán vũ khí nguyên tử vượt khỏi sự kiểm soát quốc gia. (8) Chiến tranh sắc tộc ngày càng nhiều. (9) Những nhà nước – ma siêu hiệu lực xâm nhập vào tổ chức kinh tế - xã hội, vào sự lưu thông tư bản, vào cả các thể chế quốc gia và liên quốc gia. (10) Sự bất bình đảng giữa các quốc gia trước pháp luật. Sự bá quyền của một số quốc gia trong lĩnh vực luật pháp và thiết chế quốc tế.

            Hiện tại, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thực hiện nhiều biện pháp “điều chỉnh” để thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Ở phạm vi quốc gia, chủ nghĩa tư bản hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá trình “điều chỉnh” của chủ nghĩa tư bản tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa các mâu thuẫn hiện tại của nó, chủ nghĩa tư bản tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này dược tiến hành trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,… Vì thế việc nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ 30% - 60% thu nhập quốc dân, và sử dụng một phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.

            Nhưng dù cố gắng “điều chỉnh” thế nào thì chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của nó. Đi từ kinh tế thị trường tự do  không bị nhà nước can thiệp (với đại diện ở thời hiện đại là A.Greenspan) đến chủ nghĩa tự do mới (neo-liberalism, theo quan điểm của F.A Hayek), chủ nghĩa tư bản vẫn không thể tìm ra lối thoát bởi tính chất ích kỷ và bản chất bóc lột của nó vẫn không thay đổi. Mọi sự “điều chỉnh” để thích ứng của chủ nghĩa tư bản tiếp tục đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo, người nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu, người giàu ngày càng giàu hơn. Khi mọi chi phí được nhà nước tư sản sử dụng đều có nguồn gốc từ túi tiền của người nghèo, người lao động ở chính quốc, và từ việc đầu tư ra các nước chậm phát triển để trốn thuế, khai thác tài nguyên, sử dụng nhân công rẻ mạt, thì mọi “điều chỉnh” rốt cuộc chỉ nhằm tăng lợi nhuận cho giai cấp tư sản đang thống trị xã hội mà thôi.

            Chính vì không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản mà chủ nghĩa tư bản hiện đại đã phải đối mặt với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khủng hoảng nợ kéo dài của Khu vực đồng tiên chung châu Âu (Eurozone), và gần đây là sự lan rộng của phong trào “Chiếm phố Wall” (Occupy Wall Street). Khẩu hiệu “99%” của những người tổ chức phong trào “Chiếm phố Wall” cho thấy điều này, “99%”, vì hàm ý đại diện cho 99% dân nghèo hay chỉ đủ ăn. Trong khi 1% người giàu lại điều khiển guồng máy kinh tế tài chính của nước Mỹ. Và những người tổ chức phong trào “Chiếm phố Wall” đưa ra thông điệp: “Đoàn kết trong cùng một tiếng nói, chúng ta sẽ cho các chính trị gia, và các nhà tài phiệt mà họ phục vụ biết rằng, chính chúng ta, nhân dân, quyết định tương lai của chúng ta”. Với nước Mỹ, theo Giáo sư Joseph Stiglitz ở Đại học Columbia (New York), hiện nay 1% người giàu nhất nước Mỹ làm chủ 40 % tài sản của quốc gia, trong khi 80% người dân thu nhập ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Về nợ cá nhân, giáo sư William Domhoff ở đại học California (Santa Cruz) cho biết: 1% người giàu nhất gánh chỉ 5% tổng số nợ của nước Mỹ, trong khi 90% người dân ở mức lương thấp phải gánh tới 73% số nợ đó. Giáo sư Jefferey Sachs ở Đại học Columbia (New York) cho rằng: chính quyền và cơ chế hiện nay của nước Mỹ, và có thể nói của thế giới tư bản nói chung. Là “của 1%, do 1% và vì 1%” (của số người chiếm 1% dân số, do đó số người chiếm 1% dân số, và vì số người chiếm 1% dân số).

            Trong cuốn sách “Ngoài vòng kiểm soát”, chính Brêginxky đã cay đắng phải kể ra 20 khuyết tật của xã hội Mỹ hiện nay, và dự báo Mỹ sẽ mất vai trò siêu cường trong thế kỷ XXI. (1). Sự gia tăng nợ công, nợ nước ngoài; (2). Thâm hụt thương mại – buộc Mỹ phải vay tiền trong khi Mỹ đã là con nợ lớn của thế giới, và đe dọa một số khu vực sản xuất và lao động then chốt, và do đó làm tăng thêm thất nghiệp; (3). Khối lượng tiền tiết kiệm và đầu tư thấp; (4). Không có khả năng cạnh tranh công nghiệp; (5). Tỷ lệ năng suất lao động thấp; (6). Chăm sóc y tế không đầy đủ; (7). Giáo dục trung học chất lượng kém; (8). Cơ sở hạ tầng xấu đi và tình trạng sa sút lan tràn ở đô thị; (9). Một giai cấp giàu có tham lam, có xu hướng chống đối chế độ thuế thực sự tiến bộ; (10). Tình trạng kiện tụng tràn lan không đem lại lợi ích gì; (11). Vấn đề chủng tộc và nghèo đói ngày càng sâu sắc; (12). Tội ác và bạo lực tràn lan; (13). Nền văn minh ma túy bao trùm; (14). Tình trạng lan tràn tâm lý tuyệt vọng trong xã hội; (15). Qúa nhiều giấy phép mãi dâm; (16). Sự truyền bá ồ ạt về đồi trụy tinh thần bằng phương tiện nghe nhìn; (17). Suy giảm về ý thức công dân, nó không còn đòi hỏi công dân bất cứ một hình thức cống hiến hoặc hy sinh nào thay mặt Nhà nước một quốc gia; (18). Sự nổi lên của nền văn hóa đa phương có nhiều nguy cơ chia rẽ sắc tộc; (19). Chính quyền thiếu trách nhiệm và tham nhũng, đặc quyền đặc lợi; (20). Cảm giác trống rỗng về tinh thần ngày càng phổ biến trong xã hội.

            Ngay các nước xuất khẩu tư bản và các nước nhập khẩu tư bản đều không thể chỉ được mà không bị mất gì thông qua việc đầu tư và tiếp nhận các nguồn vốn FDI. Với các nước xuất khẩu tư bản, bên cạnh “cái được” là tạm thời đẩy các mâu thuẫn xã hội, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động ra bên ngoài , làm dịu đi những xung đột xã hội, thì nó lại “nhận” được sự tăng lên của một mâu thuẫn khác – mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển. Mâu thuẫn này đang có xu hướng gia tăng. Biểu hiện của mâu này trong đời sống quốc tế hiện nay là mâu thuẫn Bắc – Nam. Sự bế tắc của vòng đàm phán Đôha, sự “vùng lên” của phong trào cánh tả ở một số nước Mỹ Latinh là những ví dụ rõ nét.

            Với các nước đang phát triển, thường là các nước nhập khẩu tư bản, đặc biệt là các nước nghèo, do bị tư bản nước ngoài bóc lột, nên tình trạng nghèo khó đang là vấn đề rất gay gắt. Những năm 90 của thế kỷ XX, thu nhập của các nước nghèo chỉ bằng 1/150 của các nước giàu. Số dân các nước nghèo chiếm tới 80% dân số thế giới nhưng chỉ sử dụng 30% năng lượng, 25% sắt thép, 15% gỗ và 40% lương thực. Đội ngũ những người nghèo đã tăng từ 2,5% tỷ người năm 1968 lên 4,2 tỷ người những năm cuối thế kỷ XX. Nghèo khó ở các nước đang phát triển đã làm cho mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo, mâu thuẫn Bắc – Nam luôn tiềm ẩn những khả năng bùng nổ. Nếu vấn đề không được giải quyết, đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện những xung đột khó có thể kiểm soát. Thực tiễn đó cho thấy đã có một sự biểu hiện mới về thất nghiệp và việc làm, về quy luật giá trị thặng dư và quy luật tích lũy tư bản khi xét vấn đề ở quy mô toàn cầu trong khuôn khổ của các nước tư bản. Theo tài liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì tình trạng thất nghiệp ở Mỹ xấu đi nhanh chóng (năm 2008: 3.140.000 người, năm 2009: 14.270.000 người, năm 2010: 14.830.000 người). Ở Đức, tình hình có cải thiện hơn (năm 2008: 3.140.000 người, năm 2009: 3.230.000 người, năm 2010: 2.50.000 người). Nếu như có quyết tâm giải quyết các khó khăn mà người dân đang phải gánh chịu do thất nghiệp và nghèo đói có nguyên nhân từ mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dung dẫn tới tình trạng sản xuất thừa thì cần phải đấu tranh làm giảm thiểu sản xuất ra giá trị thặng dư – cái mà nhà tư bản không bao giờ mong muốn. Theo báo cáo của ILO và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), đưa ra ngày 26/9/2011, nhằm chuẩn bị cho Hội nghị G20: từ 2008 trên phạm vi toàn thế giới có 20 triệu người thất nghiệp, đưa tổng số người thất nghiệp trên thế giới trên mức 200 triệu người và con số này gần bằng con số người thất nghiệp trong cuộc đại khủng năm 1929. Báo cáo phát triển thương mại năm 2011 của Diễn đàn Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc, ngày 06/9/2011 cho rằng: nguy cơ chủ yếu mà thế giới đang phải đối mặt hiện nay đó là tạo ra sự cân bằng cho sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn thế giới dựa trên nhu cầu trong nước mà tiền lương không tăng. Để tăng cường năng lực cạnh tranh, người ta thi nhau giảm lương, nhưng nếu cả thế giới đồng loạt làm như vậy thì xuất khẩu sẽ không tăng trưởng như mong muốn, dẫn tới tình trạng việc làm, thu nhập, nhu cầu sẽ giảm đi và thế giới sẽ rơi vào tình trạng “tự tiêu vong”.

            Những điều trình trên đây chưa thể nói lên tất cả những mâu thuẫn, xung đột, ngày càng gay gắt trong lòng xã hội tư bản hiện nay, nhưng cũng đã phác họa được bức tranh khái quát về những hình thức biểu hiện mới của vấn đề bóc lột của tư bản đối với lao động trên toàn thế giới. Nhưng, dù những hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa, thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột giá trị thặng dư – tức là bóc lột lao động sống của người lao động chứ không thể bóc lột lao động “chết” của máy móc được. Do vậy, nói một cách khác, học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị, chủ nghĩa tư bản vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột và xâm lược của nó. Nhằm mục đích tối thượng là giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản đã và đang vi phạm và chống lại các nhu cầu sống còn, các khát vọng và ý chí đã được tuyên bố của các dân tộc, chủ nghĩa tư bản không có khả năng giải quyết các vấn đề cấp bách nhất của xã hội và của thé giới chúng ta. Chủ nghĩa tư bản, do vậy, không phải là sự lựa chọn của chúng ta.

 

Nguồn: BTG Thành ủy Cam Ranh.

 

CÁC TIN KHÁC




 

Độ ẩm:
Sức gió:
       
hot