HƯỞNG ỨNG NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM











CD NỘP HỒ SƠ TRỰC TUYẾN
CÔNG CHỨC NHẬN HỒ SƠ




Liên kết website
Số người truy cập: 8003892
Đang online: 199
[ Ngày tạo: 28/04/2014 ]


Ban Tuyên giáo Thành ủy Cam Ranh giới thiệu nguyên văn Luận cứ phê phán quan điểm: “Cần thực hiện tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước”  của TS.Đinh Xuân Thảo- Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội như sau:

  1. Thực chất sự vận dụng thuyết phân quyền của chủ nghĩa tư bản

Từ khi ra đời, thuyết phân quyền được xác định là cơ sở lý luận cho việc thiết kế và xây dựng các mô hình thể chế nhà nước ở các nước tư bản. Trong khuôn khổ của lý thuyết phân quyền, Thực tế đã hình thành hai mô hình phân quyền cơ bản: phân quyền cứng và phân quyền mềm, phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, dù phân quyền theo mô hình nào thì bản chất của việc phân quyền đó vẫn nằm trong sự thống nhất của quyền lực nhà nước.

Mô hình phân quyền cứng: Đây là mô hình có sự phân biệt khá rành mạch về thẩm quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỹ là quốc gia được coi là điển hình của việc thực hiện triệt để thuyết “Tam quyền phân lập” theo mô hình này, song thực tiễn chính trị ở Mỹ lại cho thấy, phân quyền chỉ có trong văn bản Hiến pháp (lập pháp và hành pháp vẫn gắn kết khá chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước). Và đặc biệt, ngay cả khi áp dụng cơ chế “kiềm chế - đối trọng” từ thuyết phân quyền trong việc phân chia quyền lực nhà nước, tất yếu sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp thì hai nhánh này vẫn luôn có xu hướng thống nhất với nhau. Sự  thống nhất này có nguồn gốc từ khuynh hướng phát triển chung trong chế độ tư bản là phục vụ trước tiên cho lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền. Vì vậy, mặc dù có mâu thuẫn nhưng những mâu thuẫn này sẽ dần được “dàn xếp” để hai nhánh lập pháp, hành pháp lại bắt tay với nhau trong việc thực thi quyền lực nhà nước.

Mô hình phân quyền mềm: Trong mô hình này, không có sự phân chia rành mạch về thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực. Từ Hiến pháp đến thực tiễn chính trị đã cho thấy, sự áp dụng thuyết phân quyền của mô hình này tương đối mềm dẻo. Mặc dù có sự phân chia quyền lực giữa lập pháp và hành pháp nhưng giữa các nhánh quyền lực vẫn có sự phối hợp với nhau. Nghị viện do nhân dân bầu ra, là cơ quan lập pháp, nhưng chính phủ- cơ quan hành pháp do Nghị viện thành lập vẫn có quyền trình sáng kiến pháp luật (sáng quyền lập pháp). Đặc biệt, ở những nước mà đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện đứng ra thành lập Chính phủ thì vai trò quan trọng của Chính phủ đối với hoạt động lập pháp của nghị viện trở nên rõ ràng hơn. Chính phủ do Nghị viện thành lập thực hiện quyền hành pháp. Tuy nhiên, Nghị viện vẫn có khả năng tác động đến hoạt động của Chính phủ thông qua quyền biểu quyết không tín nhiệm Chính phủ và biểu quyết từ chối tín nhiệm Chính phủ. Trong trường hợp này, hoặc Chính phủ phải từ chức hoặc Chính phủ yêu cầu người đứng đầu nhà nước giải tán nghị viện. Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nghị viện và Chính phủ là thương lượng và thỏa thuận, trong trường hợp không đạt được thỏa thuận về tranh chấp thì vấn đề sẽ được đưa ra để nhân dân quyết định thông qua bầu cử.

Đại diện cho mô hình phân quyền mềm là cộng hòa Pháp. Chính thể ở nước pháp là sự kết hợp giữa chính thể Nghị viện và Cộng hòa Tổng thống với sự có mặt của cả Tổng thống và Chính phủ trong việc thực hiện quyền hành pháp. Dựa trên thuyết tam quyền phân lập nhưng sự phân quyền ở pháp mang tính mềm dẻo, linh hoạt. Tổng thống Pháp giữ vai trò như một trọng tài điều phối sự vận hành của cả bộ máy nhà nước cũng như cả nền chính trị đất nước. Tổng thống đứng đầu hành pháp, Thủ tướng điều hành Chính phủ và phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống và Hạ viện. Tổng thống có quyền giải tán Hạ viện; ngược lại Hạ viện có quyền không thông qua ngân sách và các chính sách của Tổng thống. “Lưỡng đầu chế” là sự phối hợp, đồng thời là sự kiểm soát quyền lực ngay trong nhánh hành pháp ở Pháp. Khả năng này vẫn xảy ra ngay cả khi xuất hiện tình huống chính trị mà giới học giả chính trị thường gọi là “thời kỳ cùng chung sống” hay “cộng sinh” - khi tổng thống và thủ tướng không cùng một đảng. Thực tiễn chính trị ở Pháp đã chứng kiến nhiều giai đoạn chính trị như vậy, gần đây nhất là “cuộc chung sống” giữa Tổng thống Jacques Chirac (Đảng Tập hợp vì nền cộng hòa) và Thủ tướng Lionel Jospin (Đảng xã hội).

Như vậy, thông qua thực tiễn phân chia quyền lực ở hai mô hình khác nhau, có thể nhận thấy việc ca ngợi “tam quyền phân lập” ở các nước tư bản là chưa thấy rõ bản chất đích thực của nó trong quá khứ cũng như hiện tại. Bởi thực chất không thể có sự phân quyền “kiềm chế - đối trọng” tuyệt đối. Đề cao “tam quyền phân lập” Hiến pháp Hoa Kỳ đã làm mất ngay quyền lực của nhân dân từ đạo luật gốc này. Trong thiết chế tam quyền ấy, duy chỉ có Quốc hội là nhân dân được bầu trực tiếp nhưng chỉ đối với Hạ viện. Còn Tổng thống, dân chúng không được bầu trực tiếp mà phải bầu gián tiếp qua đại cử chi: “Các đại cử chi sẽ họp lại ở từng bang của họ và bằng lá phiếu bầu Tổng thống và Phó Tổng thống”. Còn việc bầu cử, chính giới chính trị ở Hoa Kỳ phải thừa nhận: “Tổng số cử tri đi bầu nhìn chung - kể cả trong các cuộc bầu cử Tổng thống – đều thấp hơn so với ở hầu hết các nền dân chủ khác”. Việc hô hào “tam quyền phân lập” chẳng qua chỉ là một thủ đoạn chính trị của giai cấp tư sản, đúng như nhận định của C.Mác cách đây hàng thế kỷ: “cứ 3 năm hoặc 6 năm một lần lại quyết định cá nhân nào trong giai cấp thống trị phải đại diện và đàn áp nhân dân tại Nghị viện”. Sau này, khi nghiên cứu và phân tích bản chất của giai cấp tư sản và đấu tranh giai cấp, V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Trong chế độ dân chủ tư sản, chủ nghĩa tư bản dùng trăm phương, ngàn kế chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả - để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.

Thực tế đã cho thấy, chính phương thức tam quyền phân lập ở các nước tư bản vẫn là sự thống nhất quyền lực trong tay giai cấp tư sản. Khi đưa ra lý thuyết phân quyền, các bậc tiền bối đã chưa thấy và chưa trù liệu đến sự tác động của các Đảng phái chính trị đến việc phân chia quyền lực. Thực tiễn chính trị ở các nước tư bản dường như chỉ là sinh hoạt của các chính đảng, các chế định như Quốc hội, Chính phủ chỉ cung cấp một khung cảnh hình thức.

  1. Tam quyền phân lập không phù hợp với thực tiễn chính trị ở Việt Nam

Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy, qua 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) nhân dân Việt Nam không chỉ tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kế thừa những thành tựu của lịch sử lập hiến thế giới mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trên thực tế, đây không phải là lần đầu tiên có những ý kiến đề nghị: “Cần thực hiện tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước”. Trên thực tế, ở Việt Nam không theo mô hình nhà nước tư sản, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vẫn luôn kiên định quan điểm về việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Điều này xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất, tư duy cơ giới- nền tảng của thuyết tam quyền phân lập không phù hợp với truyền thống văn hóa và tâm lý dân tộc Việt Nam.

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh: Việt nam là dân tộc luôn đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Cách đây 726 năm (năm 1288) dân tộc ta dã đoàn kết một lòng “sát thát”, đánh tan quân Nguyên-Mông, chấm dứt thời kỳ đô hộ của quân xâm lược phương Bắc. Sau này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, các lực lượng cách mạng, cả dân tộc đã dồn sức cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, một lần nữa chứng minh cho tinh thần đoàn kết một lòng làm nên sức mạnh của dân tộc ta. Khi đất nước tiến hành đổi mới, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng phá hoại khối đại đoàn kết, kích động, chống đối, nhằm gây mất ổn định chính trị- xã hội, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta, nhưng Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập, chủ quyền của quốc gia.

Có thể nói, tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, thống nhất vì mục tiêu chung đã trở thành giá trị văn hóa, ăn sâu trong tiềm thức và lối sống của dân tộc ta. Chính vì lẽ đó, phương pháp tư duy cơ giới- nhìn nhận mọi việc theo hướng tách biệt, không có mối liên hệ với nhau, “kiềm chế- đối trọng tuyệt đối” của thuyết tam quyền phân lập đã không phù hợp với truyền thống văn hóa và tâm lý của dân tộc ta, không được dân tộc ta chấp nhận.

      Thứ hai, bản thân học thuyết phân quyền cũng chứa nhiều điều bất hợp lý

      Những yếu tố bất hợp lý thể hiện trên hai khía cạnh sau:

      Một là, việc đề cao sự phân quyền, “kiềm chế- đối trọng” một cách tuyệt đối đã làm cho thuyết phân quyền chưa thấy rõ được những phương thức kiểm soát quyền lực ngoài nhà nước, mất đi vai trò giám sát thường xuyên của nhân dân. Nếu thiếu sự giám sát này, việc phân lập các quyền cũng không giải quyết được vấn đề khi mà trên thực tế, ba quyền đều thuộc về liên minh của các nhóm chính trị.

      Hai là, việc áp dụng thuyết phân quyền tuyệt đối ở các nước tư bản dẫn tới nạn tranh giành quyền lực thường xuyên giữa các đảng chính trị, các nhóm xã hội khác nhau để nắm một quyền hay toàn bộ quyền lực nhà nước. Trong điều kiện thiếu đạo đức chính trị và hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện thì sự tranh giành quyền lực này sẽ gây ra mất ổn định chính trị – xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân.

      Từ những hạn chế trên, chính các nước tư bản hiện nay đang có xu hướng điều chỉnh, vận dụng thuyết phân quyền theo hướng phân công quyền lực, không như việc áp dụng lý thuyết phân quyền ban đầu của nó. Việc phân quyền ghi trong Hiến pháp chỉ là một thể thức sắp xếp những định chế khác nhau, còn trong thực tế thì nội dung của mối quan hệ giữa ba nhánh quyền lực này hoàn toàn khác. Điều đó cho thấy cơ sở sâu xa của phân quyền chính là sự thống nhất quyền lực trong quyền lực của nhân dân. Có thể khẳng định rằng: Dù lý thuyết đã xác định tính tất yếu của việc phân quyền, nhưng khi áp dụng nguyên tắc này sẽ tất yếu xuất hiện các cơ chế tập trung thống nhất quyền lực. Các nhánh quyền lực chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình khi vẫn đảm bảo được tính thống nhất của quyền lực. Điều này được thể hiện ở tính tối cao của luật pháp, ở việc bảo vệ các giá trị cơ bản của con người và ở sự thừa nhận quyền lực thuộc về nhân dân.

      Thứ 3, khẳng định: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” là phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam.

      Kế thừa những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, Đảng ta đã khẳng định nhất quán quan điểm: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do nhân dân và vì nhân dân”; tổ chức và hoạt động của nó dựa trên một trong những nguyên tắc nền tảng: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

      Có thể nói, nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Theo đó, nhân dân thông qua lập hiến mà trao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng nhân dân không trao hết quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, Chính phủ và cơ quan tư pháp. Theo điều 84 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và điều 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, nhân dân chỉ giao cho Quốc hội 3 nhóm quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nghĩa vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

      Thực tiễn ở nước ta chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là ở nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhât trước tiên, là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã chỉ ra. Bên cạnh đó, quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên còn là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân,  hạn chế sự dự dẫm, ỷ lai trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là nhân dân.

     Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước nên tất yếu nhân dân phải phân công và kiểm soát quyền lực đó. Do đó, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ở nước ta (sửa đôi, bổ sung năm 2011) và điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ hơn sự “phân công” và xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc trong tổ chức quyền lực ở nước ta.

      Như vậy, mặc dù nhà nước ta không thừa nhận cơ chế tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước nhưng Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) đã thể hiện rõ nội dung “ba quyền được xác lập”, bằng việc quy định rõ các cơ quan nhà nước thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên thực tế. Sự phân công rành mạch ba quyền này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyên nghiệp hóa các quyền mà còn là yếu tố đầu tiên tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Thực tiễn đã cho thấy, chỉ trên cơ sở phân công một cách đúng đắn, hợp lý, minh bạch, rõ ràng giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để cho các quyền này có điều kiện thực hiện đầy đủ và đúng đắn ý nguyện của nhân dân đã được ghi nhận thành các quy định của Hiến pháp và các đạo luật thì việc kiểm soát quyền lực nhà nước mối có hiệu quả.

      Ngoài ra, nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của kiểm soát quyền lực trên thực tiễn, bên cạnh việc quy định rõ sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) còn khẳng định cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Và theo đó, đã quy định một chương riêng về các thiết chế hiến định độc lập, bao gồm ba cơ quan: Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Kiểm toán Nhà nước. Việc ghi nhận các thiết chế hiến định độc lập này, một lần nữa cho thấy quyết tâm chính trị của  Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện triệt để nguyên tắc kiểm soát nhà nước hiện nay.

      Có thể nói, mục tiêu cuối cùng của quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân. Đây là tính ưu việt tuyệt đối của Hiến pháp Việt Nam do thiết chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực đem lại. Cả hệ thống chính trị Việt Nam: từ Đảng, Nhà nước cho đến Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội… với chức năng, quyền hạn, mối quan hệ chính trị, xã hội, pháp lý của minh đều nằm trong nội hàm của nhân dân, hướng tâm phục vụ nhân dân; thực hiện “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” chứ không phải để phân tách, phân giã quyền lực của nhân dân như các thiết chế tam quyền phân lập.

      Trong bối cảnh một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, dựa trên nền tảng là khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, mục đích của việc giành chính quyền không phải là giành quyền thống trị riêng cho minh, mà để giải phóng toàn xã hội, đưa người lao động, nhân dân lên địa vị làm chủ “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”… thì quan điểm về “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập, hành pháp và tư pháp” càng được thực tiễn chức minh là đúng đắn, phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam.

      Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với nhân thức chủ đạo trong tổ chức quyền lực là phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nên chính phủ là cơ quan hành pháp vẫn thực hiện cả chức năng lập pháp và tư pháp như soạn thảo luật, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, xử lý vi phạm hành chính… Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp (xét xử) vẫn được giao thực hiện quyền lập pháp (như trình các dự án luật, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật) và có cả quyền hành pháp (như việc bổ nhiệm thẩm phán…). Quốc hội- cơ quan lập pháp vẫn thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chức năng hành pháp và tư pháp (thể hiện trong việc thực hiện một số quyết định thuộc thẩm quyền của hành pháp và tư pháp)… Sự phân công không rõ ràng, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ như trên đã dẫn đến việc phối hợp khó khăn, kém hiệu quả và khó kiểm soát lẫn nhau trong nội bộ các cơ quan, khó cho giám sát của nhân dân. Do vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) đã có những quy định cụ thể nhằm khắc phục tình trạng nêu trên.

      Tóm lại, xuất phát từ nguồn gốc tư tưởng, những ưu điểm, hạn chế của học thuyết tam quyền phân lập, xu hướng thống nhất quyền lực ở các nước tư bản, từ thực tiễn thể chế chính trị Việt Nam và truyền thống văn hóa, tâm lý dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã không lựa chọn thể chế tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước của mình là phù hợp. Tư tưởng về sự thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được khẳng định, thể hiện nhất quán trong đường lối, quan điểm và thực tiễn xây dựng mô hình thể chế chính trị Việt Nam. Đây là một trong những quan điểm, đường lối thể hiện sự vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta đối với những hạt nhân hợp lý của thuyết Tam quyền phân lập. Trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng này đã và đang phát huy được vai trò của minh trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trở thành nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.

Nguồn BTG.TUCR

CÁC TIN KHÁC




 

Độ ẩm:
Sức gió:
       
hot